28/09/2026 - 214 lượt xem
Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng làm Trưởng đoàn đã làm việc với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và Lâm Đồng nhằm nhận diện các mô hình sử dụng đất có giá trị cao, đồng thời xác định những điểm nghẽn về thể chế, quy hoạch và quản lý tài nguyên, qua đó tổng hợp, rút ra các bài học và đề xuất chính sách.
Sáng ngày 08/9/2026, tại trụ sở Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp, Đoàn công tác đã làm việc với đại diện 04 sở trực thuộc UBND tỉnh Đồng Tháp, gồm: Sở Nông nghiệp và Môi trường (đại diện Phòng Tài chính, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chi cục Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi, Chi cục Thủy sản, Chi cục Kiểm lâm, Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp), Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ; đồng thời làm việc với đại diện Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 13, Cơ quan thống kê trên địa bàn tỉnh, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Hội Nông dân tỉnh.
Theo báo cáo, giá trị sản phẩm nông nghiệp và thủy sản bình quân toàn tỉnh Đồng Tháp ước đạt 350 triệu đồng/ha, trong đó đất nông nghiệp 310 triệu đồng/ha, đất trồng cây hàng năm 230 triệu đồng/ha, đất trồng cây lâu năm 491 triệu đồng/ha và đất nuôi trồng thủy sản 650 triệu đồng/ha. Việc tính toán chi tiết giá trị gia tăng (VA) theo từng loại đất hiện còn hạn chế do phụ thuộc vào hệ số chi phí trung gian (IO) do Trung ương công bố định kỳ 5 năm.
Trao đổi với các đại biểu, đồng chí Nguyễn Hoa Cương đề nghị cung cấp thêm thông tin về hiệu quả kinh tế của mô hình trồng lúa chất lượng cao, phát thải thấp thuộc Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao so với phương thức sản xuất lúa thông thường. Đồng chí Lê Văn Chấn, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Đồng Tháp cho biết mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng Tháp cho hiệu quả kinh tế rõ rệt so với canh tác truyền thống, như: giảm 6,96% tổng chi phí sản xuất, tăng 7,78% năng suất lúa, giúp nông dân tăng thêm thu nhập bình quân khoảng 9,73 triệu đồng/ha. Hiệu quả này có được nhờ giảm 28,4% lượng giống, tiết kiệm chi phí đầu vào, ứng dụng cơ giới hóa, quản lý nước và drone, đồng thời cho năng suất lúa trung bình đạt 7,54 tấn/ha), cao hơn lúa thường 544,7 kg/ha. Đáng chú ý, mô hình có khả năng duy trì bền vững mà không phụ thuộc vào hỗ trợ, nếu nông dân làm chủ kỹ thuật và duy trì các thói quen như sạ thưa, giảm phân, tiết kiệm nước, thu gom rơm rạ. Tuy nhiên, yếu tố quyết định tính bền vững về kinh tế là liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp bao tiêu, nhằm bảo đảm đầu ra và giá trị tương xứng cho sản phẩm lúa phát thải thấp.
Đồng chí Lê Văn Chấn cũng nêu những thách thức và rủi ro trong dài hạn của các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng hoa màu hoặc cây ăn trái, gồm: việc chuyển đổi từ đất lúa sang trồng cây ăn trái có tính ổn định cao; biến đổi khí hậu làm gia tăng hạn hán, xâm nhập mặn và giảm lượng phù sa, đặc biệt ảnh hưởng đến các vùng trồng cây ăn trái nhạy cảm với nước mặn tại khu vực Gò Công và lân cận; hoạt động xuất khẩu trái cây gặp nhiều yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu, nhất là về mã số vùng trồng và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Bên cạnh những vấn đề liên quan đến hiệu quả kinh tế của mô hình trồng lúa, Đoàn công tác cũng trao đổi với đại diện các đơn vị tham dự buổi họp về những vấn đề như: phương thức tổ chức sản xuất phù hợp cho địa phương; trình độ, năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ quản lý HTX và vấn đề về vốn của HTX; những vướng mắc pháp lý trong tiếp cận chính sách hỗ trợ; nút thắt chính sách lớn nhất cần tháo gỡ để phát triển HTX; hiệu quả chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và HTX; hiệu quả của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa; hiệu quả của việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trồng cây ăn trái, hoa màu thay thế đất trồng lúa; quản lý nguồn nước, thích ứng biến đổi khí hậu và thực trạng dữ liệu quy hoạch.
Về kiến nghị, đồng chí Nguyễn Đoàn Thanh Tuyết, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp, cho rằng để giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ, cần chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo điều kiện để doanh nghiệp tự khai, tự cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm; đồng thời tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Toàn cảnh buổi làm việc tại UBND xã Mỹ Quí, tỉnh Đồng Tháp.
Chiều cùng ngày, Đoàn công tác đã làm việc với đồng chí Lý Đức Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Quí cùng với cán bộ các phòng của UBND xã, tham dự buổi làm việc còn có đại diện các doanh nghiệp và Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo của Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Quí, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã cơ bản ổn định, trong đó sản xuất lúa tiếp tục là ngành chủ lực. Diện tích xuống giống đạt 26.213 ha, đã thu hoạch 17.475,3 ha, năng suất bình quân 71,5 tạ/ha, sản lượng đạt 124.948,4 tấn. Cơ cấu giống tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng, với diện tích lúa chất lượng cao và nếp đạt 25.688,69 ha, chiếm 98% diện tích xuống giống; tỷ lệ sử dụng giống xác nhận, nguyên chủng đạt 95%, tỷ lệ cơ giới hóa khoảng 90%. Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như “1 phải 5 giảm”, IPHM, sạ thưa, sạ hàng và tổ chức sản xuất theo lịch né rầy góp phần giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.
Công tác liên kết sản xuất và tiêu thụ được quan tâm, đặc biệt thông qua triển khai Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”. Đến nay, diện tích thực hiện Đề án đạt khoảng 3.754 ha, trong đó 390 ha đạt chứng nhận VietGAP và 200 ha đạt chứng nhận SRP. Địa phương tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp tham gia liên kết, hình thành vùng nguyên liệu tập trung, đồng bộ về thủy lợi, cơ giới hóa và tổ chức sản xuất.
Đối với cây ăn trái, toàn xã hiện có khoảng 1.496 ha, chủ yếu trồng mít, sầu riêng, xoài và chanh. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, mô hình “Chợ Đồng Quê” tại HTX Thắng Lợi tiếp tục được duy trì, góp phần tiêu thụ nông sản, phát huy giá trị văn hóa địa phương và tạo thêm thu nhập cho người dân.
Xã Mỹ Quí được định hướng phát triển thành vùng nông nghiệp sinh thái trọng điểm. HTX Thắng Lợi trước đây là mô hình điểm thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao. Thời gian tới, địa phương ưu tiên nâng cao hiệu quả sản xuất khoảng 6.484 ha lúa chất lượng cao gắn với Đề án 1 triệu ha; đồng thời đẩy mạnh liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, ứng dụng khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị nông sản.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn tồn tại một số điểm nghẽn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất, tập trung ở thủy lợi, giao thông và dữ liệu sản xuất. Do vậy, đại diện UBND xã Mỹ Quí cũng đề xuất các giải pháp ưu tiên để nâng cao hiệu quả và giá trị sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn trong thời gian tới.
Trao đổi với các đại biểu tham dự buổi làm việc tại trụ sở UBND xã Mỹ Quí, đồng chí Nguyễn Hoa Cương đã bày tỏ mong muốn nghe tiếng nói thực tế từ những người trực tiếp sản xuất, quản lý tại địa phương để tìm hiểu các vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến người dân sử dụng đất. Theo đại diện doanh nghiệp, việc đầu tư và mở rộng vùng nguyên liệu còn gặp khó khăn do phụ thuộc vào nhu cầu thị trường, khả năng tiêu thụ có hạn nên khó mở rộng diện tích liên kết; đồng thời, biên lợi nhuận thấp khiến doanh nghiệp khó nâng giá thu mua lúa thương phẩm. Bên cạnh đó, đầu ra chưa ổn định cũng hạn chế khả năng doanh nghiệp cam kết dài hạn về giá, sản lượng và đầu tư sâu vào vùng nguyên liệu.
Theo đại diện HTX, tại khu vực Nam Bộ, trong đó có tỉnh Đồng Tháp, việc tích tụ đất đai theo hướng tập trung quyền sử dụng đất thông qua thuê đất của người dân hoặc dồn điền, đổi thửa còn gặp nhiều khó khăn và chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế. Do vậy, cần ưu tiên tổ chức sản xuất theo hướng người dân giữ nguyên quyền sử dụng đất và trực tiếp sản xuất; HTX làm đầu mối tổ chức, vận động, liên kết các hộ trong cùng ô bao thủy lợi, thống nhất thời vụ, giống, quy trình kỹ thuật, quản lý nước và chăm sóc. Qua đó, hình thành vùng sản xuất có tính đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa, thu hoạch tập trung và liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp.

Phó Viện trưởng Nguyễn Hoa Cương phát biểu tại buổi làm việc tại trụ sở Sở Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh Lâm Đồng.
Sáng ngày 10/9/2026, Đoàn công tác tiếp tục trao đổi với cán bộ các cơ quan, đơn vị tỉnh Lâm Đồng về tình hình quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tại trụ sở Sở Nông nghiệp và Môi trường của tỉnh, về phía tỉnh Lâm Đồng tại buổi làm việc có đồng chí Vũ Đình Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, đồng chí Mai Thanh Nga, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, đồng chí Nguyễn Trần Nhật Huy, Phó Giám đốc Sở Tài chính, đồng chí Võ Văn Thanh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước khu vực 10, cùng đại diện các Chi cục chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường và Liên minh Hợp tác xã tỉnh gồm: đồng chí Trần Quang Duy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đồng chí Võ Văn Đàn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, đồng chí Nguyễn Đức Trí, Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn, đồng chí Đỗ Hải Thoại, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi, đồng chí Trần Văn Linh, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, đồng chí Vũ Thanh Cao, Phó Giám đốc Trung tâm khuyến nông, đồng chí Phan Đình Khiêm, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh. Ngoài ra, tham dự cuộc họp có đồng chí Võ Văn Thanh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước khu vực 10, đồng chí Trần Văn Khanh, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Sở Công Thương.
Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện triển khai 05 mô hình sản xuất nông nghiệp chủ lực, gồm: (1) rau, hoa công nghệ cao; (2) cà phê thâm canh; (3) cây ăn quả giá trị cao; (4) chè chất lượng cao; và (5) lúa – rau màu ngoài trời. Mô hình rau, hoa công nghệ cao có quy mô lớn nhất, với GO đạt 1.800–2.500 triệu đồng và VA đạt 1.050–1.450 triệu đồng. Tiếp đến là mô hình cây ăn quả giá trị cao, với GO 750–1.100 triệu đồng và VA 510–780 triệu đồng, cho thấy khả năng tạo giá trị kinh tế cao trên đơn vị diện tích. Mô hình cà phê thâm canh và chè chất lượng cao có quy mô sản xuất và giá trị gia tăng ở mức trung bình, góp phần tạo sinh kế tương đối ổn định cho người dân. Trong khi đó, mô hình lúa – rau màu ngoài trời có GO 130–195 triệu đồng và VA 70–110 triệu đồng, thấp nhất trong 05 mô hình, phản ánh hiệu quả kinh tế còn hạn chế của phương thức sản xuất truyền thống. Nhìn chung, các mô hình rau, hoa công nghệ cao và cây ăn quả giá trị cao có khả năng tạo doanh thu và giá trị gia tăng lớn, trong khi cà phê và chè phát huy vai trò ổn định sinh kế; lúa – rau màu ngoài trời cần được nghiên cứu nâng cao hiệu quả hoặc chuyển đổi phù hợp với điều kiện sản xuất và thị trường.
Tuy nhiên, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch tại Lâm Đồng còn rất cao. Rau hoa tổn thất từ 20% - 25%; Cà phê, chè tổn thất từ 15% - 20%. Nguyên nhân chủ yếu do tổn thất cơ học trong khâu thu hái thủ công, dập nát khi vận chuyển đường dài; thiếu hệ thống kho lạnh trung chuyển, xe lạnh chuyên dụng và công nghệ xử lý sau thu hoạch (cấp đông, sấy hiện đại, màng bảo quản khí quyển điều chỉnh MAP).
Bên cạnh đó, việc duy trì và nhân rộng các mô hình hiệu quả còn gặp ba điểm nghẽn chính: (i) nguồn vốn tín dụng chưa phù hợp với chu kỳ đầu tư dài của cây lâu năm và nông nghiệp công nghệ cao; (ii) thiếu lao động nông nghiệp, nhất là lao động thời vụ và lao động kỹ thuật; (iii) phương thức khuyến nông đang chuyển đổi từ hỗ trợ trực tiếp giống, vật tư sang tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong chuyển giao công nghệ, vật tư, máy móc và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Trao đổi với Đoàn công tác, đại diện Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lâm Đồng, Sở Khoa học & Công nghệ, Sở Công Thương cũng trình bày về thực trạng công tác hỗ trợ cho vay phát triển nông nghiệp, về Quỹ Phát triển KH&CN địa phương, về mở rộng cụm công nghiệp nhằm thu hút doanh nghiệp chế biến sâu nông sản vào địa phương. Hiện nay, tỉnh Lâm Đồng đã vận hành Sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh (sanphamdiaphuong.com.vn) với hơn 85 tài khoản và gần 1.000 sản phẩm nông sản OCOP. Để tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản sang các nước phát triển, hạ tầng logistics lạnh chuyên sâu và các quy chuẩn về nông nghiệp xanh cần được đầu tư, phát triển.
Về kiến nghị, các đại biểu tham dự cuộc họp kiến nghị Trung ương: (i) Bổ sung nguồn vốn cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX; (ii) Có chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp rõ ràng cho HTX nông nghiệp khi thu mua nông sản của dân bán cho doanh nghiệp; (iii) Chuyển cơ chế quản lý chất lượng nông sản từ “tiền kiểm” (bắt buộc làm hồ sơ cấp phép phức tạp ban đầu) sang “hậu kiểm” (cho phép tự khai tự chịu trách nhiệm, cơ quan nhà nước kiểm tra đột xuất sản phẩm lưu thông); hỗ trợ nguồn lực đầu tư hạ tầng logistics lạnh chuyên sâu và các quy chuẩn về nông nghiệp xanh.
Đồng chí Vũ Đình Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cho biết, người nông dân Lâm Đồng rất năng động, nhạy bén với thị trường và có mức thu nhập bình quân thuộc hàng cao nhất cả nước. Nhiều hộ gia đình thu nhập hàng tỷ đồng/năm từ rau hoa công nghệ cao, sầu riêng. Việc người dân chủ động vay vốn ngân hàng để đầu tư tái canh, lắp đặt hệ thống tưới hiện đại là nhu cầu hoàn toàn tự nhiên và hiệu quả. Tỉnh Lâm Đồng có những đặc thù duy nhất cả nước (gồm: tỷ lệ dư nợ tín dụng nông nghiệp chiếm 70%, diện tích nhà kính tập trung lớn nhất, tỷ lệ che phủ rừng cao), do vậy kiến nghị Trung ương cho phép Lâm Đồng áp dụng cơ chế thí điểm (Sandbox) về: (i) Cơ chế cấp phép và thế chấp tài sản nhà kính/nhà lưới công nghệ cao; (ii) Cơ chế nhập khẩu cấp tốc giống hoa bản quyền; (iii) Cơ chế thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon rừng và tín chỉ carbon đất lúa/rau hoa.
Trao đổi với các đại biểu dự họp, đồng chí Nguyễn Hoa Cương cho rằng, những thông tin thực tiễn, số liệu chi tiết và đặc biệt là các đề xuất cơ chế chính sách của tỉnh Lâm Đồng sẽ là nguồn tài liệu hữu ích để xây dựng báo cáo trình các cấp trong thời gian tới.
Chiều cùng ngày, tại trụ sở UBND xã Hiệp Thạnh, Đoàn công tác đã làm việc với đồng chí Nguyễn Quang Hiệp, Chủ tịch UBND xã, đồng chí Nguyễn Văn Minh, Chánh Văn phòng UBND xã, đại diện các phòng thuộc UBND xã và các hộ nông dân, doanh nghiệp và Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh.

Toàn cảnh buổi làm việc tại UBND xã Hiệp Thạnh, tỉnh Lâm Đồng.
Trao đổi với Đoàn công tác, đại diện Phòng Kinh tế xã Hiệp Thạnh đã báo cáo tóm tắt tình hình sản xuất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn. Về đặc điểm tự nhiên, dân số và quy mô đất đai, Xã Hiệp Thạnh hiện nay được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã cũ là Hiệp An, Phú Hiệp và Hiệp Thạnh. Tổng diện tích tự nhiên của xã sau sáp nhập là 127,2 km² (12.720 ha), dân số khoảng 53.000 người. Toàn xã có 9 thôn (trong đó có 3 thôn là vùng đồng bào dân tộc thiểu số). Diện tích đất sản xuất nông nghiệp đang canh tác gieo trồng trực tiếp là 2.197 ha. Do áp dụng các mô hình gieo trồng rau hoa nhiều vụ trong năm, hệ số sử dụng đất canh tác trung bình của xã đạt 1,9 lần/năm. Xã Hiệp Thạnh được xác định là xã nông nghiệp trọng điểm của huyện Đức Trọng và tỉnh Lâm Đồng, tạo tiền đề cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thương mại dịch vụ. Toàn xã đã xây dựng được 25 sản phẩm OCOP (trong đó có 6 sản phẩm đạt tiêu chuẩn 4 sao). Chuỗi liên kết sản xuất đạt diện tích 219,7 ha với 227 hộ nông dân tham gia.
Bên cạnh những kết quả đạt được, xã cũng đang đối diện với nhiều khó khăn, như: địa hình dốc phức tạp, nguồn nước phục vụ tưới tiêu còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào các hồ đập nhỏ; hệ thống đường giao thông nội đồng còn nhiều tuyến đường đất, mùa mưa lầy lội khiến việc vận chuyển phân bón, vật tư đầu vào và thu gom nông sản gặp rất nhiều khó khăn, làm gia tăng chi phí vận chuyển; Hiệp Thạnh nằm ở vị trí vùng trũng rốn nước hứng toàn bộ lượng nước mưa đổ về từ thành phố Đà Lạt và vùng thượng nguồn; dự án nạo vét kiên cố hóa kênh thoát nước chống ngập úng cần khoảng 284 tỷ đồng nhưng ngân sách xã không thể kham nổi; toàn xã thiếu các kho lạnh tập trung và cơ sở sơ chế chế biến sau thu hoạch, làm tăng tỷ lệ hao hụt nông sản; tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khá đông, tập quán canh tác còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa quen với việc ghi chép nhật ký VietGAP hay tuân thủ nghiêm ngặt hợp đồng liên kết với doanh nghiệp.
.png)
Phó Viện trưởng Nguyễn Hoa Cương phát biểu tại buổi làm việc tại trụ sở UBND xã Hiệp Thạnh, tỉnh Lâm Đồng.
Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hoa Cương cùng thành viên Đoàn công tác đã trao đổi thêm nhiều vấn đề với các đại biểu tham dự cuộc họp, như: hình thức liên kết của hộ dân tham gia chuỗi liên kết; điều kiện và chính sách hỗ trợ cụ thể giúp người dân chuyển đổi sang rau hoa hiệu quả hơn; kế hoạch hoặc đề xuất giải pháp cụ thể của xã để giải quyết khó khăn về ngập úng và đường giao thông nội đồng; tỷ lệ hộ liên kết trên tổng số hộ nông nghiệp của xã; điều kiện để các hộ trồng rau màu ngoài trời nâng cấp lên mô hình công nghệ cao (nhà kính, nhà màng) hoặc đạt chuẩn VietGAP/hữu cơ; vướng mắc HTX đang gặp phải về đất đai và vốn vay tín dụng ngân hàng; tỷ lệ phân bổ diện tích giữa 3 mô hình (nhà kính công nghệ cao, rau hoa ngoài trời và trồng lúa.

Đồng chí Nguyễn Quang Hiệp, Chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh, tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại cuộc họp.
Theo đồng chí Nguyễn Quang Hiệp, Chủ tịch UBND xã Hiệp Thạnh, khó khăn lớn nhất trong phát triển nông nghiệp tại địa phương của chính quyền xã Hiệp Thạnh không phải là kỹ thuật hay đất đai, mà chính là thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Bà con nông dân, đặc biệt là hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn giữ tâm lý manh mún, thích tự làm tự bán, sợ vào HTX và sợ bị ràng buộc hợp đồng. Bên cạnh đó, việc chưa công nhận nhà kính làm tài sản thế chấp vay vốn khiến nông dân không có nguồn lực mở rộng sản xuất.
Đồng chí Nguyễn Hoa Cương ghi nhận những ý kiến sâu sắc và sát thực tế của các đại biểu tham dự buổi làm việc tại trụ sở UBND xã Hiệp Thạnh. Buổi làm việc tại xã diễn ra hiệu quả, cung cấp cho Đoàn công tác nhiều thông tin thực tiễn có giá trị, làm cơ sở cho việc đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương và đề xuất các giải pháp chính sách phù hợp để nâng cao giá trị sử dụng đất trong thời gian tới.
Nguồn: Phòng Nghiên cứu kinh tế ngành và địa phương
Với mong muốn mang đến cho các em nhỏ một mùa Trung thu trọn vẹn yêu thương, ngập tràn niềm vui và tiếng cười, tối ngày 25/9/2026, Viện Nghiên cứu ...
Thực hiện kế hoạch công tác năm 2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, ...
Trong hai ngày 22 và 23/9/2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó ...
Sáng ngày 21/8/2026 tại Hà Nội, trong khuôn khổ Chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng ...
Ngày 21/08/2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách Chiến lược Trung ương do ông ...
Ngày 19/8/2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách Chiến lược Trung ương do ông ...
Ngày 17/8/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và ...
Ngày 7/8/2026, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện ...
Sáng ngày 10/8/2026, tại Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đồng chí Đặng Đức Anh, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và ...
Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), phát huy truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp ...