Quang cảnh tại điểm cầu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày 02 chuyên đề quan trọng:
Xin trân trọng giới thiệu toàn văn 02 bài báo cáo chuyên đề:
I. Chuyên đề về Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam
NỘI DUNG THỨ I: VỀ BỐI CẢNH VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN
(1) Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 40 năm Đổi mới và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể và trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2025.
(2) Tuy nhiên, đổi mới mô hình phát triển đất nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo vànăng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế. Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm của phát triển. An sinh xã hội, an ninh con người, hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và đổi mới quản trị quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
(3) Trong khi đó, bối cảnh thế giới biến đổi nhanh, phức tạp và đang có những thay đổi mang tính thời đại. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ chiến lược và xu hướng phát triển; làm thay đổi căn bản mô hình, phương thức sản xuất và quản trị. Các xu hướng này đang tác động sâu sắc đến mô hình phát triển, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Cùng với đó, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách, mục tiêu chiến lược, đột phá, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "hai con số" đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về mô hình phát triển đất nước trong thời gian tới.
(4) Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và quán triệt chủ trương, đường lối, quan điểm, Nghị quyết, Kết luận của Đảng và các kết luận chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tổng thể, toàn diện về đổi mới mô hình phát triển đất nước cho giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130.
NỘI DUNG THỨ II: VỀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
Nghị quyết của Trung ương đề ra 05 quan điểm chỉ đạo, có thể khái quát như sau:
(1) Quan điểm thứ nhất: xác định các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển, đó là thực hiện nhất quán “bốn kiên định”; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường vai trò giám sát, phản biện và tạo đồng thuận xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Xác định đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
(2) Quan điểm thứ 2 thể hiện bản chất của đổi mới mô hình phát triển đất nước và nội hàm của mô hình phát triển mới. Đổi mới mô hình phát triển đất nước trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo lập năng lực phát triển mới và chuyển đổi sang mô hình phát triển mới - mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển; lấy nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia làm động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia làm những nguyên tắc trung tâm; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển; đảm bảo phát triển kinh tế nhanh nhưng bền vững, bao trùm; gắn chặt xây dựng với bảo vệ Tổ quốc; kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng – an ninh, đẩy mạnh đối ngoại trong tất cả các khâu từ hoạc định chiến lược đến quy hoạch và phân bổ nguồn lực; quốc phòng - an ninh, đối ngoại đồng hành và thúc đẩy phát triển.
(3) Quan điểm thứ 3 xác định cơ chế vận hành. Mô hình phát triển đất nước vận hành đồng bộ theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ" trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, liên kết và lan tỏa. Xác định phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là then chốt; phát triển văn hóa và con người là nền tảng, là nguồn lực, động lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.
(4) Quan điểm thứ 4 định hướng khai thác, phát huy mọi tiềm năng, lợi thế, sức mạnh quốc gia và tất cả các nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng đến tầm nhìn dài hạn và khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp, nâng lên năng lực, tiềm lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.
(5) Quan điểm thứ 5 xác định đổi mới mô hình phát triển đất nước được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết chặt chẽ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất; lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển và dựa trên dữ liệu; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.
NỘI DUNG THỨ III. VỀ MỤC TIÊU VÀ TẦM NHÌN
Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, tạo lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030-2130), Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất các mục tiêu theo các mốc phát triển và định hướng tầm nhìn đến năm 2130 như sau:
(1) Đến năm 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao. Tạo được đột phá về thể chế, quản trị quốc gia hiện đại, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
(2) Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực, gồm: (i) Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; (ii) Mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; (iii) Mô hình phát triển văn hóa, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; (iv) Mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; (v) Mô hình quốc phòng – an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; (vi) Mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển; (vii) Mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.
(3) Đến năm 2045, hoàn thành chuyển đổi sáng mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập và các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xanh, tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng; xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; văn hóa và con người trở thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và nền tảng phát triển quốc gia; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế chủ động, hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc gia và đóng góp tích cực vào hòa bình, phát triển bền vững và văn minh chung của nhân loại.
(4) Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng và an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.
NỘI DUNG THỨ IV: VỀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Nghị quyết đề ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, bao gồm:
(1) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị, gồm 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm từ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, đổi mới, hoàn thiện quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật đồng bộ, khả thi, linh hoạt, thích ứng nhanh; xây dựng chính phủ số, dữ liệu số và nền tảng số; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thí điểm và nhân rộng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa.
(2) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kinh tế, gồm 13 nhóm nhiệm vụ, giải pháp bao quát toàn diện từ xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống và phát huy các động lực tăng trưởng mới, đến tổ chức lại không gian phát triển; xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; hoàn thiện phát triển các loại thị trường; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính; đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia; phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới; xây dựng và triển khai chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa thế hệ mới; phát triển nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, chất lượng cao, hệ sinh thái doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao; phát triển hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, thông minh, xanh, kết nối đa tầng, đa phương thức; đổi mới mạnh mẽ liên kết nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; và phát triển đô thị thành động lực tăng trưởng quan trọng.
(3) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về xã hội, gồm 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đó là xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; có niềm tin, có khả năng thích ứng và phục hồi trước các biến động; quản trị, phát triển xã hội hiện đại dựa trên dữ liệu; xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, đa tầng, bao trùm, linh hoạt, thích ứng cao; chuyển đổi hệ thống y tế từ chữa bệnh sang phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện; đổi mới quản trị phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa thị trường lao động.
(4) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về văn hóa, con người, gồm 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trọng tâm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia. Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, lấy người học làm trung tâm. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Nâng cao chất lượng dân số và khai thác cơ hội phát triển từ chuyển đổi dân số.
(5) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về môi trường sinh thái, có 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, gồm: xây dựng văn hóa sinh thái, thúc đẩy lối sống xanh, phát triển xanh, hài hòa với thiên nhiên; phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; xây dựng nền tảng quản trị tài nguyên và môi trường hiện đại; chủ động phòng ngừa, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển công nghiệp môi trường.
(6) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về quốc phòng, an ninh, gồm 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, thích ứng với hình thái chiến tranh mới và các không gian chiến lược mới. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân liên hoàn; gắn thế trận quốc phòng số, an ninh số với thế trận lòng dân vững chắc. Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, lưỡng dụng, hiện đại, có năng lực làm chủ công nghệ chiến lược, dẫn dắt với sự tham gia phù hợp của khu vực tư nhân trong nước. Phát triển toàn diện năng lực bảo đảm an ninh quốc gia; xây dựng và triển khai hiệu quả Chiến lược an ninh quốc gia; hoàn thiện khung chiến lược quốc gia về an ninh con người; bảo vệ người dân trước thách thức an ninh phi truyền thống và trên không gian mạng.
(7) Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về đối ngoại và hội nhập quốc tế, gồm 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp; trọng tâm là xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm; triển khai đồng bộ, hiệu quả ngoại giao công nghệ, ngoại giao số, ngoại giao văn hóa và ngoại giao môi trường, khí hậu; phát huy vai trò của ngoại giao nguyên thủ. Nâng tầm đối ngoại đa phương; đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh; đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ.
NỘI DUNG THỨ V: VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Nghị quyết đã phân công nhiệm vụ tổ chức thực hiện cụ thể cho Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy các bộ, ngành Trung ương; các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Văn phòng Trung ương Đảng.
Để triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động số 33-CTr/TWvới 51 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và 40 chỉ tiêu chủ yếu; xác định rõ lộ trình, sản phẩm đầu ra, phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức chủ trì theo dõi, thực hiện.
II. Chuyên đề Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Nội dung báo cáo gồm 3 phần: (1) sự cần thiết ban hành Nghị quyết; (2) những tư duy mới của Nghị quyết; và (3) là những nội dung cơ bản của Nghị quyết.
PHẦN THỨ I: SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhận thức về vị trí, vai trò đặc biệt của biển được nâng lên; thể chế, chính sách, pháp luật và quản trị biển tiếp tục được hoàn thiện; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được tăng cường. Kinh tế biển tiếp tục khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế. Đời sống Nhân dân vùng ven biển, hải đảo được cải thiện. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển được củng cố, tăng cường;giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước. Tuy nhiên, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh còn nhiều khó khăn, thách thức. Thể chế, chính sách, quản trị biển và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn bất cập. Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường biển chưa đáp ứng yêu cầu. Tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở bờ biển diễn biến phức tạp. Việc quản lý, khai thác và làm chủ không gian biển, ứng phó với các thách thức an ninh biển và nâng cao đời sống một bộ phận cư dân ven biển, hải đảo còn hạn chế; giá trị văn hóa biển chưa được phát huy đầy đủ.
Nước ta là quốc gia biển có vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng, có vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược và là bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thêm vào đó, Biển Đông và Biển Tây nước ta luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, tác động trực tiếp đến hòa bình, ổn định và phát triển đất nước.
Trước bối cảnh và yêu cầu mới, việc ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
PHẦN THỨ II: NHỮNG TƯ DUY MỚI VỀ PHÁT TRIỂN QUỐC GIA BIỂN MẠNH
Thể hiện ở 6 nội dung sau:
- Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; định hướng phát triển quốc gia có năng lực quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học, công nghệ biển tiên tiến, có năng lực bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vị thế quốc tế về biển; phát triển toàn diện sức mạnh quốc gia trên biển, đưa biển thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
- Thứ hai, xác định biển là không gian phát triển chiến lược và là nơi hình thành những cực tăng trưởng, các ngành kinh tế và động lực phát triển mới. Tập trung nghiên cứu phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo đột phá, tạo giá trị gia tăng cao.
- Thứ ba, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu cho phát triển biển.
- Thứ tư, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh trên biển, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; phát triển bảo đảm yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển.
- Thứ năm, đề xuất mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông, dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia; bảo đảm quản lý tổng hợp, quản trị đồng bộ mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; đồng thời bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa đất liền với biển đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
- Thứ sáu, các chương trình hành động cần cụ thể, đảm bảo 5 rõ, có cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện.
PHẦN THỨ III: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT
Nội dung Nghị quyết bao gồm 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn và phần tổ chức thực hiện.
1. Về 5 nhóm quan điểm chỉ đạo
* Quan điểm thứ nhất: Xác định rõ vai trò của biển.
- Biển là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.
- Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Việt Nam phải có nền quản trị biển hiện đại; kinh tế biển phát triển; khoa học, công nghệ biển tiên tiến; môi trường bền vững; văn hóa giàu bản sắc; cộng đồng cư dân giàu mạnh; quốc phòng, an ninh được giữ vững và hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao.
* Quan điểm thứ hai: Đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và quản trị biển hiện đại.
- Chuyển mạnh từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.
- Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là đột phá chiến lược; phát huy mạnh mẽ, hiệu quảmọi nguồn lực, khơi thông mọi tiềm năng, lợi thế của biển, hải đảo; hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền - biển - hải đảo và các không gian phát triển mới.
* Quan điểm thứ ba:
- Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính xây dựng, phát triển quốc gia biển mạnh, trọng tâm là đẩy mạnh điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển; phát triển và làm chủ công nghệ, dữ liệu và tri thức biển, đại dương.
- Phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực biển hiện đại.
* Quan điểm thứ tư: Nhận diện đầy đủ các yếu tố bảo đảm tính "bền vững" trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
- Phát triển quốc gia biển mạnh trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế.
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao khả năng chống chịu, năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro.
* Quan điểm thứ năm: Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và xác định trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của các nhóm chủ thể trong xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh.
- Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội.
- Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn; phát triển đất nước theo hướng biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.
2. Về các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra 6 nhóm mục tiêu với 32 mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giai đoạn 2026 - 2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, bao gồm các nhóm về: (1) Kinh tế; (2) Phát triển không gian biển, hạ tầng biển; (3) Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (4) Quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; (5) Văn hoá, xã hội; (6) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại (Đề nghị các đồng chí nghiên cứu chi tiết trong Nghị quyết và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết).
3. Về các nhóm nhiệm vụ, giải pháp
Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, bao gồm:
(1) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia. Với các nội dung chính:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về biển; chuyển mạnh sang quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển dựa trên dữ liệu số và quy hoạch không gian biển; quản trị đồng bộ vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, đảo, vùng ven biển, vùng trời trên biển; mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển xa, biển sâu và các không gian biển mới; đổi mới cơ chế điều phối liên ngành về biển, đại dương.
- Phát huy vai trò, tính chủ động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân.
(2) Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh. Với các nội dung chính:
- Đổi mới quản trị không gian biển là nội dung cốt lõi, đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh.
- Rà soát, hoàn thiện, bổ sung hệ thống pháp luật liên quan, cùng với nâng lên năng lực thực thi; đảm bảo thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế.
- Quy hoạch không gian biển quốc gia đảm bảo thống nhất, đồng bộ, kết nối giữa đất liền, biển, vùng trời và các không gian mới; định hướng không gian đa tầng, đa ngành; đảm bảo là công cụ quản lý, điều phối tổng hợp phát triển không gian biển quốc gia, là căn cứ để phân bổ nguồn lực.
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá quốc gia biển mạnh.
(3) Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.
- Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, ưu tiên cho các lĩnh vực, địa bàn, dự án trọng điểm, lan tỏa.
- Phát triển mạnh các doanh nghiệp biển dẫn dắt; hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước, tư nhân quy mô lớn có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành, lĩnh vực biển quan trọng.
(4) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Tăng đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng, tiếp nhận, chuyển giao, phát triển công nghệ biển; thúc đẩy xây dựng, tích hợp, khai thác hiệu quả dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số biển, đại dương.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý về biển.
(5) Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới.
Tập trung vào 6 lĩnh vực:
- Phát triển hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số toàn diện các ngành, lĩnh vực biển; hình thành các không gian phát triển đa mục tiêu gắn với quốc phòng - an ninh và bảo vệ môi trường.
- Phát triển ngành dầu khí và khai thác tài nguyên, khoáng sản biển.
- Phát triển kinh tế hàng hải trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển, bao gồm:
+ Phát triển hệ thống cảng biển;
+ Phát triển đội tàu vận tải biển hiện đại; đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics hàng hải, kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không;
+ Phát triển ngành công nghiệp đóng tàu đồng bộ với đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, hệ thống cảng, công nghiệp phụ trợ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Cơ cấu lại ngành thủy sản hiện đại, bền vững, tổ chức sản xuất theo chuỗi, tích hợp đa giá trị.
- Phát triển du lịch và dịch vụ biển.
- Phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới.
(6) Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực.
- Mở rộng không gian phát triển ra biển xa, biển sâu và các không gian biển mới; hình thành các cực tăng trưởng, các trung tâm, hành lang kinh tế biển mạnh.
- Phát triển hạ tầng biển, ven biển, hải đảo, hạ tầng kết nối đồng bộ, hiện đại; ưu tiên phát triển hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, số, năng lượng.
- Phát triển các khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do, đô thị biển và các cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển hiện đại, xanh, thông minh, bảo đảm ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng.
(7) Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.
(8) Xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Phát triển toàn diện văn hóa biển Việt Nam trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia biển.
- Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, di sản biển.
- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; có chính sách thu hút dân ra sinh sống ổn định ở các đảo đủ điều kiện.
(9) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.
- Phát triển quốc gia biển mạnh gắn chặt với bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại.
- Tăng cường xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển.
- Chủ động, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế về biển, đảo. Tăng cường vai trò và ảnh hưởng của Việt Nam trong các cơ chế hợp tác, quản trị biển và đại dương.
4. Về tổ chức thực hiện
Nghị quyết đã phân công nhiệm vụ tổ chức thực hiện cho: Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Chính phủ; các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động số 34-CTr/TW thực hiện Nghị quyết, xác định rõ mục đích, yêu cầu, các nhiệm vụ, giải pháp cùng với 6 nhóm mục tiêu với 32 mục tiêu cụ thể và danh mục gồm 45 nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình cụ thể, xác định rõ lộ trình, thời gian, nguồn lực, sản phẩm và phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, tổ chức chủ trì thực hiện.
Tại Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có phát biểu chỉ đạo quan trọng.



