13/07/2026 - 230 lượt xem
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (IPSS) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam tổ chức Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu “Xây dựng Ma trận hạch toán xã hội năng lượng (ESAM) cho Việt Nam nhằm thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng và chuyển đổi xanh”. Nghiên cứu được phối hợp thực hiện bởi Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Trường Đại học Copenhagen (Đan Mạch), Cục Thống kê Việt Nam và UNDP. Đồng chí Nguyễn Đức Trung, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam đồng chủ trì Hội thảo. Hội thảo có sự tham gia của các đại diện đến từ các ban, bộ, ngành, viện nghiên cứu, các chuyên gia, nhà khoa học và một số cơ quan báo chí, truyền thông đến đưa tin.

Đồng chí Nguyễn Đức Trung, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phát biểu chỉ khai mạc
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó trưởng Ban Nguyễn Đức Trung chia sẻ: Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu “Xây dựng Ma trận hạch toán xã hội năng lượng (ESAM) cho Việt Nam nhằm thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng và chuyển đổi xanh” là hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh cả nước đang triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và thực hiện thành công hai mục tiêu phát triển 100 năm của đất nước. Nghị quyết Đại hội XIV đặt ra yêu cầu phát triển đất nước với tốc độ tăng trưởng cao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi năng lượng trở thành một cấu phần then chốt của đổi mới mô hình phát triển, vừa đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của nền kinh tế, vừa góp phần thực hiện mục tiêu trung hòa carbon và phát triển bền vững. Phó trưởng Ban Nguyễn Đức Trung tin tưởng các kết quả nghiên cứu sẽ được khai thác hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chính sách trong quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam
Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam, bà Ramla Khalidi, cũng khẳng định ESAM đóng vai trò thiết yếu trong việc định hình lại lộ trình chuyển đổi năng lượng, giúp Việt Nam giải quyết đồng thời các thách thức về môi trường và kinh tế. Để đạt được sự cân bằng giữa an ninh năng lượng và phát triển kinh tế, việc ứng dụng các mô hình như ESAM tại các cơ quan hoạch định chính sách là vô cùng cấp thiết. Giá trị bền vững của ESAM chính là khả năng thích ứng linh hoạt, cho phép các cơ quan chính phủ tự chủ cập nhật và khai thác trước những thay đổi thực tế. Bà Ramla Khalidi bày tỏ với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, UNDP rất vinh dự được đồng hành cùng Việt Nam. Sự hỗ trợ của UNDP không dừng lại ở những mục tiêu tham vọng, mà tập trung vào hành động thực chất để đảm bảo một quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng, hòa nhập và bao trùm."

TS. Đặng Thị Thu Hoài, Trưởng phòng, Phòng Nghiên cứu kinh tế ngành và địa phương, IPSS
TS. Đặng Thị Thu Hoài, Trưởng phòng, Phòng Nghiên cứu kinh tế ngành và địa phương, IPSS, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày kết quả xây dựng ESAM cho Việt Nam. Dựa trên bộ dữ liệu ESAM 2019, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những nhận định thực trạng đáng chú ý về kinh tế và năng lượng Việt Nam năm 2019. Theo đó, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn mang đặc trưng gia công và thâm dụng lao động, khi khu vực công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn hạn chế. Đồng thời, Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu, đặc biệt là than, dầu thô và nhiên liệu hàng không, làm gia tăng rủi ro đối với cán cân thương mại và an ninh năng lượng. Trong bối cảnh đó, phát triển năng lượng tái tạo có thể mang lại lợi ích kép: vừa giảm phát thải và phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, vừa tạo ra tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước cao hơn so với nhiệt điện hóa thạch. Tuy nhiên, sự chênh lệch giá điện giữa các nhóm khách hàng và ngành kinh tế có thể làm sai lệch tín hiệu thị trường và chưa khuyến khích sử dụng năng lượng hiệu quả. Vì vậy, Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách thị trường điện theo hướng minh bạch, phản ánh đầy đủ chi phí cung ứng, đồng thời tăng cường đầu tư và chính sách hỗ trợ năng lượng tái tạo để bảo đảm quá trình chuyển dịch năng lượng hiệu quả và bền vững.
Theo TS. Đặng Thị Thu Hoài, dự án đã phát triển hai mô hình phân tích chính, gồm: Mô hình số nhân (SAM Multiplier) cho các tác động lan tỏa ngắn hạn và Mô hình Cân bằng Tổng thể (CGE) để mô phỏng phản ứng hành vi của thị trường trong dài hạn. Kết quả mô phỏng từ mô hình số nhân cho thấy, một cú sốc tăng giá điện 10% có thể khiến chi phí sản xuất của ngành công nghiệp chế biến tăng thêm 1,8% và ảnh hưởng mạnh nhất đến các hộ gia đình có thu nhập thấp (tăng 3,2% chi phí). Những số liệu này giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn đa chiều về tác động của chuyển dịch năng lượng đối với công bằng xã hội.
Dự án là sản phẩm của sự hợp tác chặt chẽ giữa IPSS, UNDP, Đại học Copenhagen và Tổng cục Thống kê. Toàn bộ bộ số liệu ESAM, mã nguồn các mô hình phân tích và các báo cáo kỹ thuật hiện đã được chia sẻ công khai để phục vụ cộng đồng nghiên cứu và hoạch định chính sách. Công cụ này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ đắc lực cho Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, giảm phát thải khí nhà kính nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong tiến trình chuyển dịch năng lượng quốc gia, TS. Đặng Thị Thu Hoài chia sẻ.

GS. Finn Tarp, Trường Đại học Copenhagen, Đan Mạch
Tại Hội thảo, GS. Finn Tarp, Trường Đại học Copenhagen, Đan Mạch cũng đã có phần trình bày về mô hình định lượng phân tích chuyển dịch năng lượng công bằng chi Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. Tại định hướng ứng dụng đầu tiên, theo Giáo sư cần xây dựng thêm các gói chính sách cụ thể hơn. Các mô phỏng trong tương lai có thể mở rộng từ các mô phỏng hiện nay bằng cách đưa vào mô hình các công cụ chính sách cụ thể hơn, nhằm trả lời các câu hỏi chính sách cụ thể: lộ trình áp dụng thuế carbon; thiết kế hệ thống giao dịch phát thải-ETS; cải cách biểu giá điện; cơ chế đấu thầu năng lượng tái tạo; cơ chế bù đắp cho hộ gia đình. Bên cạnh đó, hệ thống mô hình dựa trên ESAM nên được tích hợp vào quá trình xây dựng và phân tích chính sách thường xuyên của Việt Nam, nhằm hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Hệ thống này có lợi thế trong việc làm rõ các lựa chọn đánh đổi chính sách, so sánh các công cụ chính sách khác nhau, và xác định nhóm nào được lợi, nhóm nào bị thiệt từ từng các phương án chính sách khác nhau.
Tại định hướng ứng dụng thứ hai, GS. Finn Tarp nhấn mạnh việc cập nhật cơ sở dữ liệu thường xuyên là rất quan trọng. Các bộ dữ liệu về ESAM, năng lượng và phát thải cần được cập nhật định kỳ 2–3 năm một lần để theo dõi những thay đổi nhanh chóng của Việt Nam về cơ cấu năng lượng, cơ cấu công nghiệp và mô hình tiêu dùng của hộ gia đình. GS Finn Tarp cũng đề xuất nâng cấp từ mô hình CGE tĩnh sang CGE động, với phần mô tả đầy đủ hơn về năng lượng và phát thải. Theo Giáo sư, cần mô phỏng các lộ trình chuyển đổi đến năm 2045 (gắn với mục tiêu trở thành nước thu nhập cao), và đến năm 2050 (gắn với mục tiêu phát thải ròng bằng 0) . Thời điểm đầu tư và quá trình loại bỏ dần các tài sản/vốn cũ có vai trò rất quan trọng, tuy nhiên, mô hình CGE động sẽ phức tạp hơn và đòi hỏi năng lực phân tích cao hơn, GS Finn Tarp cho biết.

Phiên thảo luận
Phiên thảo luận, do ThS. Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược điều phối với sự tham gia của các diễn giả: TS. Jonathan Pincus, Giám đốc Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Trường Đại học Fulbright Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường; TS. Nguyễn Ngọc Hùng, Trưởng phòng Kinh tế Năng lượng, Viện Năng lượng; TS. Phạm Ngọc Toàn, Giám đốc Trung tâm Thông tin, phân tích, dự báo chiến lược và dịch vụ công, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và lao động, Bộ Nội vụ; PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Phó Trưởng Bộ môn Phân tích chính sách tài chính, Học viện Tài chính. Tại Phiên thảo luận các đại biểu đã trao đổi, phân tích và đưa ra các định hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng công bằng, hướng tới tăng trưởng chất lượng cao, xanh và bao trùm tại Việt Nam trong thời gian tới.

Toàn cảnh Hội thảo
Phát biểu kết luận Hội thảo, ThS. Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng IPSS nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân bằng giữa năng lượng nền và năng lượng tái tạo nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. ThS. Nguyễn Hoa Cương trân trọng cảm ơn những đóng góp tâm huyết từ các chuyên gia, đồng thời cho biết đây là nền tảng chiến lược để tiếp tục phát triển và làm sâu sắc hơn nữa các nghiên cứu trong tương lai.
Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, tại Thành phố Hải Phòng, được sự đồng ý về chủ trương của đồng chí Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, ...
Ngày 02/7/2026, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (IPSS) tổ chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và triển khai ...
Sáng ngày 15/6/2026, tại trụ sở Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đồng chí Đặng Đức Anh, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách ...
Được sự đồng ý của Lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương trong khuôn khổ triển khai xây dựng Đề án
Triển khai Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và nhiệm vụ được Bộ ...
Chiều ngày 8/5/2026, Phó Viện trưởng Nguyễn Hoa Cương chủ trì cuộc họp kỹ thuật nhằm trao đổi những kinh nghiệm và thực tiễn tốt trong hỗ trợ an ninh năng lượng của ...
Sáng ngày 18/3/2026, tại Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, theo Thư đề nghị của Đại sứ quán Australia tại Việt ...
Sáng ngày 27/3/2026, tại Hà Nội, đồng chí Lương Văn Khôi, Phó Viện trưởng Viện Nghiên ...
Chiều ngày 23/3/2026, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (IPSS) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến đối với báo ...
Sáng ngày 23/3/2026, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (IPSS) tổ chức Hội thảo
(27/05/2026)
(12/05/2026)
(20/03/2026)
(28/03/2026)
(25/03/2026)
(25/03/2026)