Phó Viện trưởng Lương Văn Khôi chủ trì buổi làm việc với Đoàn công tác của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD)
Tin tức - sự kiện

Phó Viện trưởng Lương Văn Khôi chủ trì buổi làm việc với Đoàn công tác của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD)

28/03/2026 - 82 lượt xem

Sáng ngày 27/3/2026, tại Hà Nội, đồng chí Lương Văn Khôi, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã tiếp và làm việc với Đoàn công tác của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) do ông Carl Bernadac, Trưởng ban Nghiên cứu Kinh tế thuộc Vụ Đổi mới, Nghiên cứu và Tri thức (IRS), AFD làm trưởng đoàn cùng các chuyên gia của Chương trình nghiên cứu Kinh tế về biến đổi khí hậu tại Việt Nam giai đoạn 2(GEMMES VN2) - Đây là chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Pháp và Việt Nam, được khởi xướng năm 2018. Tham gia buổi làm việc có đại diện các phòng chuyên môn của Viện.

 

Đồng chí Lương Văn Khôi, Phó Viện trưởng IPSS  phát biểu

Phó Viện trưởng Lương Văn Khôi chào mừng Đoàn công tác đến thăm và làm việc với Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (IPSS). Đồng chí Phó Viện trưởng đánh giá cao vai trò của Cơ quan phát triển Pháp (AFD) trong khuôn khổ triển khai Thỏa thuận hợp tác về “Quan hệ đối tác để triển khai giảm phát thải Carbon và chuyển đổi năng lượng” được ký kết giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam trước đây (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và AFD năm 2022 tại COOP27.

Đồng chí cho biết, Chương trình được triển khai trong giai đoạn 2024-2027 với 3 định hướng chính rất quan trọng: (1) Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan, thông qua việc nghiên cứu sâu hơn các kết quả đã đạt được trong khuôn khổ Giai đoạn 1 của Chương trình GEMMES. (2) Mô hình kinh tế vĩ mô GEMMES Việt Nam và việc kết nối mô hình này với mô hình năng lượng LEAP do Bộ Nông nghiệp và Môi trường sử dụng, nhằm phân tích các hệ quả kinh tế vĩ mô của những kịch bản chuyển đổi năng lượng khác nhau, bao gồm cả kịch bản đạt mức phát thải ròng bằng 0. (3) Tăng cường hiểu biết về các tác động xã hội của quá trình chuyển đổi năng lượng, đặc biệt về việc làm và tài nguyên thiên nhiên, nhằm đảm bảo một quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng.

Đồng chí chia sẻ, Nghị quyết Đại hội XIV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm. Theo đó, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 28.000 USD. Bên cạnh các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế cao, Việt Nam đặc biệt chú trọng đến phát triển bền vững. Đến nay, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành chín nghị quyết mang tính nền tảng, nhằm định hướng toàn diện cho quá trình phát triển của đất nước trong giai đoạn tới, trong đó có nhiều quy định đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đồng chí Phó Viện trưởng cho biết, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương là cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc lãnh đạo, chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội; định hướng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược, biện pháp lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội. Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Ban, có chức năng nghiên cứu, tham mưu, phối hợp thẩm định và đề xuất cho Ban về các vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Viện có một phòng nghiên cứu chức năng về xã hội và môi trường.

Đồng chí thông tin, thời gian qua, các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra nhiều thiệt hại đối với nền kinh tế. Riêng năm 2020, tổn thất kinh tế và phúc lợi quốc gia của Việt Nam do tác động của BĐKH ước tính khoảng 3,2% GDP; năm 2025, do tác động của thời tiết cực đoan, thiệt hại về kinh tế có thể lên tới khoảng 1,6% GDP, cũng như các tác động tiêu cực khác đến việc người lao động mất việc làm và suy giảm thu nhập, đến biến động dân cư, sức khỏe của người dân, tạo áp lực cho cơ sở y tế, làm chậm tiến độ giảm nghèo của Việt Nam, gia tăng khoảng cách bất bình đẳng xã hội giữa các vùng miền, làm gián đoạn quá trình học tập tại nhiều trường học trên cả nước và ảnh hưởng tới văn hóa, du lịch Việt Nam. Nếu không ứng phó kịp thời với thời tiết cực đoan và BĐKH, đến năm 2050, hằng năm tổn thất về kinh tế của Việt Nam có thể lên tới mức 12%-14,5% GDP. Bên cạnh đó, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhu cầu về năng lượng là rất lớn, do đó, dự báo được tình hình lũ lụt và thời tiết cực đoan có ý nghĩa rất quan trọng để có những phương án chủ động về năng lượng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và dân sinh. Cùng với đó, việc đánh giá và dự báo được các tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và chuyển đổi năng lượng đến kinh tế - xã hội, việc làm và an sinh xã hội, và khai thác tài nguyên thiên nhiên là cơ sở quan trọng cho Việt Nam trong việc ban hành các giải pháp chính sách ứng phó phù hợp kịp thời. Để thực hiện phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, hiện nay Việt Nam đang thực hiện các cam kết để chuyển đổi năng lượng hóa thạch sang năng lượng sạch, điện gió, năng lượng mặt trời, thậm chí hướng đến xây dựng nhà máy điện hạt nhân,… Do đó, việc đánh giá tác động của chuyển đổi năng lượng theo các kịch bản về công nghệ, tài chính,… cũng như các tác động tới các ngành và người dân nhất là nhóm yếu thế sẽ cung cấp những thông tin quan trọng cho việc hoạch định chính sách của Chính phủ.

Qua buổi làm việc trước đó của đồng chí Phó Trưởng Ban với Đoàn công tác, đồng chí Phó Viện trưởng cho rằng các hợp phần của Chương trình GEMMES VN do AFD tài trợ cho Việt Nam rất quan trọng, rất hữu ích và Viện rất quan tâm trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới. Hiện nay, các nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề kỹ thuật về xã hội - môi trường gắn với phát triển kinh tế ở Việt Nam như các nghiên cứu trong Chương trình GEMMES chưa nhiều, do đó, đồng chí bày tỏ mong muốn Viện IPSS được gia cùng trong quá trình nghiên cứu của Dự án này.

Ông Carl Bernadac, Trưởng ban Nghiên cứu Kinh tế thuộc Vụ Đổi mới, Nghiên cứu và Tri thức (IRS)(AFD, Paris, France) phát biểu

Ông Carl Bernadac bày tỏ cảm ơn sự đón tiếp của Viện dành cho đoàn công tác. Ông chia sẻ, qua phần giới thiệu của đồng chí Phó Viện trưởng đã hiểu được những thách thức của Việt Nam, trong đó Việt Nam cần có những ưu tiên trong nghiên cứu về lĩnh vực xã hội - môi trường. Ông cho biết, Đoàn công tác có các chuyên gia cấp cao, trong đó có các nhóm nghiên cứu theo hợp phần, bao gồm các nội dung về tác động kinh tế vĩ mô, tác động xã hội, cũng như các khía cạnh liên quan đến kinh tế vĩ mô và tài chính đã làm việc với các cơ quan của Chính phủ Việt Nam và với các đối tác về lĩnh vực này để làm rõ những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp phù hợp.

Theo ông Carl Bernadac, đây là một chương trình nghiên cứu hợp tác có quy mô lớn, phạm vi rộng và mang tính dài hạn. Chương trình hiện đang được triển khai với sự tham gia của nhiều cơ quan tại Việt Nam. AFD mong muốn tiếp tục trao đổi với các chuyên gia nghiên cứu của Viện để cùng nhau phát triển các công cụ nghiên cứu và phân tích. Ông nhấn mạnh, các vấn đề đặt ra có nhiều khía cạnh khác nhau, điển hình là trong lĩnh vực biến đổi khí hậu. Do đó, cần có cách tiếp cận tổng thể, bảo đảm hài hòa giữa việc đánh giá các tác động hiện tại và dự báo, nắm bắt các xu hướng biến đổi khí hậu trong tương lai. Theo đó, trọng tâm của chương trình là nghiên cứu và phát triển một mô hình đánh giá tổng thể, bao gồm đánh giá tác động kinh tế vĩ mô, tác động tài chính và các tác động của các kịch bản chuyển đổi năng lượng của Việt Nam. Ba hợp phần nghiên cứu này sẽ tạo cơ sở để phân tích, đánh giá các chính sách của Việt Nam trên ba phương diện chủ yếu: biến đổi khí hậu, chính sách chuyển dịch năng lượng và các vấn đề kinh tế - xã hội, môi trường.

Ông Carl Bernadac bày tỏ mong muốn chương trình sẽ góp phần hỗ trợ các cơ quan chức năng và cơ quan quản lý của Việt Nam trong việc đề xuất các giải pháp phù hợp, qua đó thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp. Đồng thời, khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu này, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu trong nước, cũng như tận dụng khuôn khổ chương trình để chia sẻ các kết quả nghiên cứu tại các diễn đàn hợp tác quốc tế, cả song phương và đa phương.

Đoàn công tác của AFD và Viện IPSS chụp ảnh lưu niệm

Tiếp theo, các chuyên gia của AFD trình bày tổng quan và giới thiệu về các kết quả nghiên cứu trong các hợp phần trong khuôn khổ của dự án. Trong Hợp phần 1, bà Marie-Noëlle WOILLEZ  trình bày kết quả nghiên cứu về các hiện tượng thời tiết cực đoan (khu vực đô thị); mưa lớn và hạn hán với sự tham gia của một nhóm nghiên cứu liên ngành. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập, số hóa và phân tích các dữ liệu trước đây, nhằm đánh giá xu hướng tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan trong quá khứ. Trên cơ sở đó, nhóm đang xây dựng cơ sở dữ liệu khí hậu và thời tiết cho Việt Nam, phục vụ cho công tác phân tích và mô hình hóa. Đồng thời, nhóm đã xây dựng hệ thống 14 chỉ số để đánh giá các hiện tượng khí hậu cực đoan, bao gồm các yếu tố như lượng mưa, nhiệt độ và các biến động khí hậu, qua đó phục vụ dự báo nguy cơ lũ lụt và các hiện tượng liên quan. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung vào hiện tượng nắng nóng cực đoan, đặc biệt tại hai khu vực trọng điểm là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh,... Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cảnh báo rằng từ nay đến năm 2050, nếu không có các giải pháp ứng phó và chính sách phù hợp, các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ tác động tiêu cực đến năng suất và tăng trưởng kinh tế.

Tổng quan về Hợp phần 2, bà Gaëlle LE TREUT cho biết nội dung này tập trung vào phát triển và vận hành các mô hình năng lượng - kinh tế, nhằm xây dựng các kịch bản cân đối cung - cầu năng lượng gắn với phân tích kinh tế vĩ mô và tài chính, phục vụ hoạch định chính sách cho Việt Nam.Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng ba kịch bản năng lượng đến năm 2050, gồm: kịch bản tham chiếu (dựa trên xu hướng hiện tại), kịch bản thích ứng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, và kịch bản trung hòa carbon vào năm 2050. Hiện nay, kịch bản tham chiếu đã hoàn thành, trong khi các kịch bản còn lại đang tiếp tục được hoàn thiện. Bà nhấn mạnh, các mô hình sẽ được tích hợp để xây dựng kịch bản tổng thể, qua đó phân tích nhu cầu công nghệ, nguồn vốn, rủi ro kinh tế và yêu cầu tài chính (đặc biệt là tài chính xanh). Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá khả năng hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải, cũng như đề xuất lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Kết quả phân tích từ các mô hình và kịch bản sẽ là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị chính sách, nhằm bảo đảm cân đối giữa tăng trưởng kinh tế, an ninh năng lượng và mục tiêu trung hòa carbon, đồng thời hỗ trợ Việt Nam xây dựng các cơ chế tài chính và chiến lược đầu tư phù hợp trong bối cảnh phụ thuộc năng lượng và yêu cầu phát triển bền vững.

Bà Cecila POGGI trình bày kết quả nghiên cứu Hợp phần 3 về các khía cạnh xã hội của chuyển dịch năng lượng và khuyến nghị chính sách. Theo đó, cùng với sự tham gia của các nhà nghiên cứu Việt Nam nhằm đánh giá tác động kinh tế và môi trường. Nghiên cứu thứ nhất tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất chế tạo, từ đó đề xuất giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chuyển dịch năng lượng, duy trì sản xuất, tăng trưởng và tạo việc làm. Nghiên cứu thứ hai xây dựng bản đồ việc làm và xác định nhu cầu đào tạo, nâng cao năng lực cho người lao động trước thách thức biến đổi khí hậu, cho thấy nhu cầu đào tạo trong lĩnh vực này là rất lớn.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đánh giá sự phù hợp giữa chính sách kinh tế - xã hội và chính sách môi trường, nhấn mạnh việc gắn kết các chính sách, đặc biệt với an sinh xã hội và sinh kế của người dân phụ thuộc vào hệ sinh thái tự nhiên. Các nghiên cứu cũng phân tích mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và chuyển dịch năng lượng, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá kinh tế năng lượng và tác động đến nhận thức người dân.Trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị như cần điều chỉnh chương trình đào tạo kỹ năng để phù hợp với yêu cầu mới của biến đổi khí hậu và thị trường lao động; tăng cường liên kết giữa chính sách năng lượng, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên cơ chế đánh giá tác động môi trường; đồng thời chú trọng cân bằng giữa năng suất lao động với an toàn và sức khỏe người lao động;..

Trong phần thảo luận, Phó Viện trưởng Lương Văn Khôi cảm ơn các chuyên gia với các bài trình bày có nhiều thông tin bổ ích cho việc tham mưu xây dựng chính sách. Theo đó, đồng chí đưa ra các đề xuất đối với nhóm nghiên cứu của AFD: Viện được tiếp cận toàn bộ tài liệu mà nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu cho đến nay và cả các nghiên cứu trong tương lai; đặt hàng nhóm nghiên cứu về mô hình phát triển xã hội, mô hình phát triển trong lĩnh vực môi trường cho Việt Nam trong bối cảnh mô hình phát triển chung của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045; và các nghiên cứu viên của Viện được tham gia cùng nhóm chuyên gia của AFD để học hỏi, tìm hiểu, nghiên cứu các mô hình trong các hợp phần để áp dụng cho công tác phân tích, dự báo trong tương lai. Đồng thời, đồng chí cho biết, năm 2025, Ban có một nghiên cứu về “Báo cáo Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026: Tạo lập nền tảng vững chắc cho đột phá tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030”, trong đó có một chương do Nhóm nghiên cứu của Viện IPSS thực hiện và Ông Lương Văn Khôi làm Trưởng nhóm nghiên cứu về Rủi ro khí hậu và và năng lực thích ứng của Việt Nam; và Viện sẵn sàng chia sẻ nghiên cứu này với AFD.

Ông Carl Bernadac đồng ý với các đề xuất của Viện. Chương trình có nhiều mảng nghiên cứu khác nhau, do đó nên thành lập các nhóm để trao đổi sâu hơn về chuyên đề kỹ thuật. Việc xây dựng mô hình GEMMES đều dựa trên nền kinh tế Việt Nam, phía AFD sẽ chuyển giao mô hình để tích hợp vào các mô hình công cụ khác vì đây là mô hình phát triển và dữ liệu đầu vào cho Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu này cũng đã báo cáo và chia sẻ với các cơ quan khác của Chính phủ Việt Nam. Ông bày tỏ mong muốn được tham khảo các nghiên cứu mới nhất của Viện, trong đó có “Báo cáo Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026: Tạo lập nền tảng vững chắc cho đột phá tăng trưởng giai đoạn 2026 – 2030” như Phó Viện trưởng Lương Văn Khôi đã đề cập./.

Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

 

 

 

 

 

 

 


Tin tức khác