Tọa đàm SDMD lần thứ 12 với chủ đề “Đột phá phát triển Khoa học Công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới”
Tin tức - sự kiện

Tọa đàm SDMD lần thứ 12 với chủ đề “Đột phá phát triển Khoa học Công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới”

23/12/2025 - 231 lượt xem

Ngày 19/12/2025, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã đồng chủ trì và có bài tham luận tại Tọa đàm SDMD lần thứ 12 “Đột phá phát triển Khoa học Công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới” do Đại học Cần Thơ chủ trì, phối hợp với các đối tác trong nước và quốc tế tổ chức trong khuôn khổ Diễn đàn Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn 2045 (SDMD 2045)

Toạ đàm có sự tham dự của ông Vương Quốc Nam, Phó chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ, đại diện các cơ quan, Sở, ngành các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long; đại diện và các chuyên gia JICA Việt Nam; các hiệp hội, tổ chức, doanh nghiệp, tập đoàn; đại diện các viện – trường trong nước và quốc tế; về phía Đại học Cần Thơ có GS.TS. Hà Thanh Toàn - Nguyên Hiệu trưởng, Ban Chỉ đạo SDMD 2045; GS.TS. Trần Ngọc Hải - Phó Hiệu trưởng; cùng lãnh đạo các đơn vị đào tạo, trung tâm, phòng ban chức năng.

Toàn cảnh Toạ đàm

Phát biểu tại toạ đàm, TS. Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh vai trò quan trọng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với 12% diện tích và 19% dân số cả nước, có thế mạnh trong các lĩnh vực nông nghiệp như sản xuất lúa, nuôi trồng thuỷ sản, trái cây, xuất khẩu gạo; có 700km bờ biển và vùng đặc quyền kinh tế thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, lĩnh vực năng lượng tái tạo và logistics. Do đó, toạ đàm có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển chung cho vùng ĐBSCL trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới.

Nhận định về tình hình phát triển khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) của vùng, TS. Nguyễn Đức Hiển cho biết, vùng ĐBSCL đang dần khẳng định vị thế trong phát triển KHCN, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chẳng hạn như việc ứng dụng các thiết bị bay không người lái (UAV/drone) hỗ trợ ngành nông nghiệp tại ĐBSCL (riêng tại ĐBSCL, việc sử dụng dịch vụ phun thuốc thuê bằng drone gắn camera AI đã trở nên phổ biến, với khoảng 3.000 thiết bị hoạt động trên 1,5 triệu ha đất canh tác - tương đương gần 20% diện tích nông nghiệp cả nước). Bên cạnh đó, theo đánh giá của Viện ứng dụng KHCN (Bộ KHCN), sơ bộ KHCN của vùng đóng góp khoảng 3% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% giá trị gia tăng trong giống cây trồng vật nuôi. Đây là những thành tựu bước đầu đáng ghi nhận.

TS. Nguyễn Đức Hiển phát biểu tại Toạ đàm

Năng lực ĐMST của vùng ĐBSCL có sự cải thiện, tuy nhiên giữa các địa phương trong vùng có sự phân hoá rõ rệt. Theo Chỉ số ĐMST cấp địa phương (PII) năm 2024 (trước sáp nhập tỉnh), Cần Thơ là địa phương dẫn đầu vùng (với 46,01 điểm, xếp thứ 7 toàn quốc), là trung tâm ĐMST của vùng, có Khu CNTT tập trung (1 trong 8 khu CNTT tập trung được thành lập trong cả nước). Long An và Bến Tre đạt mức khá (lần lượt xếp thứ 12 và 30 toàn quốc), tuy nhiên hầu hết các địa phương còn lại xếp hạng Chỉ số ĐMST khá thấp, không có sự cải thiện và thậm chí tụt hạng so với năm 2023; mức độ ĐMST thể hiện qua số văn bằng sáng chế được cấp của toàn vùng vẫn còn hạn chế so với cả nước. Năm 2024, số văn bằng độc quyền sáng chế được cấp cho 13 tỉnh/thành phố trong vùng là 7 bằng (chiếm 2,2% tổng số văn bằng độc quyền sáng chế được cấp trong cả nước), giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là loại văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp được cấp nhiều nhất cho vùng nhưng cũng chỉ chiếm 7,4% cả nước.

 Sự phân hoá giữa các địa phương trong vùng còn thể hiện ở năng lực và xếp hạng chuyển đổi số. So sánh xếp hạng chuyển đổi số do Bộ TTTT (nay là Bộ KHCN) công bố năm 2023 và năm 2024, một số địa phương có xếp hạng cao trong chính quyền số (Cà Mau xếp thứ 3, Long An xếp thứ 5, Kiên Giang xếp thứ 4 toàn quốc), trong khi đó một số địa phương xếp hạng rất thấp (An Giang xếp thứ 60, Tiền Giang xếp thứ 52…); Vùng ĐBSCL có địa phương vào top 10 xếp hạng chuyển đổi số toàn quốc (Long An xếp thứ 10 năm 2024), nhưng cũng có địa phương có xếp hạng chuyển đổi số top cuối cả nước (Bạc Liêu xếp hạng 58, An Giang xếp hạng 60). Điều này cho thấy, vùng ĐBSCL đang tồn tại một "khoảng cách số" nghiêm trọng ngay trong nội bộ vùng.

Các địa phương trong vùng ĐBSCL tích cực hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, tạo tiếng vang và hiệu ứng tốt. Tuy nhiên, kết quả vẫn còn khá khiêm tốn trong tương quan so sánh với các vùng kinh tế khác. Số lượng doanh nghiệp KNST (tính đến tháng 11/2024) của vùng ĐBSCL chỉ chiếm 4% tổng số cả nước, thấp hơn khá nhiều so với vùng Đồng bằng sông Hồng (27%), vùng Đông Nam Bộ (62%); Đóng góp kinh tế số trong GRDP trung bình toàn vùng vẫn còn thấp hơn trung bình của cả nước  trong giai đoạn 2020-2024 (năm 2024, trung bình của cả nước là 10,1%, trung bình toàn vùng là 6,7%).

Giải ngân kinh phí cho hoạt động KHCN còn chậm, nguyên nhân một phần do hoạt động của mô hình quỹ phát triển KHCN chưa phát huy được vai trò là công cụ tài chính quan trọng hỗ trợ phát triển KHCN, ĐMST và CĐS tại các địa phương trong Vùng. Năm 2025, tỷ lệ bố trí chi thường xuyên cho hoạt động KHCN và tỷ lệ giải ngân chi thường xuyên cho hoạt động KHCN tại các địa phương rất thấp, trong đó Cần Thơ – địa phương đầu tàu của vùng ĐBSCL chỉ đạt 0,21% đối với tỷ lệ bố trí chi thường xuyên cho hoạt động KHCN và 30% đối với tỷ lệ giải ngân chi thường xuyên cho hoạt động KHCN. Thực tiễn cho thấy, việc giải ngân kinh phí cho hoạt động KHCN chậm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trực tiếp từ hoạt động của mô hình quỹ phát triển KHCN và quỹ đổi mới công nghệ chưa hiệu quả như kỳ vọng.

Gợi ý một số định hướng giải pháp, TS. Nguyễn Đức Hiển cho rằng vùng ĐBSCL cần tập trung vào một số vấn đề sau: Một là, cần đầu tư có trọng tâm trọng điểm để tạo sức bật cho nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp sinh thái, lúa phát thải thấp. Nghiên cứu KHCN phục vụ cho nông nghiệp, công nghiệp phục vụ nông nghiệp (điện gió, năng lượng mặt trời), dịch vụ logistics, KHCN phục vụ cho kinh tế biển; Hai là, thúc đẩy ứng dụng các mô hình kinh tế mới như mô hình kinh tế tầm thấp; thúc đẩy việc áp dụng các sandbox cho mô hình mới; khu công nghiệp sinh thái; Ba là, đẩy mạnh hợp tác công - tư, trong đó tạo không gian hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường, viện nghiên cứu; Bốn là, hoàn thiện mô hình quỹ phát triển KHCN địa phương, áp dụng các chuẩn mực về giám sát, minh bạch và chấp nhận rủi ro khoa học hợp lý; Năm là, có giải pháp trọng dụng, thu hút nhân lực trong KHCN trong vùng.

Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược

 

 


Tin tức khác