14/10/2026 - 20 lượt xem
Trong bối cảnh đáp ứng yêu cầu cao về mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên, nâng cao hiệu quả đầu tư công có ý nghĩa quan trọng trong huy động nguồn lực cho tăng trưởng trước mắt, cũng như tạo lập nền tảng phát triển trong trung và dài hạn. Bài viết phân tích thực trạng đầu tư công năm 2026 trên các phương diện phân bổ, thực hiện và giải ngân vốn, qua đó đánh giá khả năng chuyển nguồn lực đầu tư công thành kết quả đầu tư và tác động đối với tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy tiến độ giải ngân có chuyển biến tích cực, nguồn lực từng bước tập trung cho các dự án có tính lan tỏa và một số công trình hoàn thành đã bổ sung năng lực kết cấu hạ tầng. Tuy nhiên, khả năng hấp thụ vốn còn chưa đồng đều; tiến độ một số dự án hạ tầng chiến lược và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng mới còn chậm; chất lượng chuẩn bị và tổ chức thực hiện một số dự án còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công theo hướng đẩy nhanh chuyển hóa vốn thành công trình sớm đi vào hoạt động, tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai, tăng cường trách nhiệm thực hiện và nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và tạo nền tảng cho giai đoạn 2026 - 2030.
1. Đặt vấn đề
Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, có ý nghĩa quan trọng trong tạo đà và định hình quỹ đạo phát triển cho cả giai đoạn. Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 của Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Mục tiêu này đòi hỏi tạo được bước chuyển thực chất trong huy động và sử dụng các nguồn lực phát triển, vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trước mắt, vừa nâng cao năng lực của nền kinh tế trong trung và dài hạn. Trong bối cảnh đó, đầu tư công giữ vai trò quan trọng trong tập trung nguồn lực của Nhà nước để tháo gỡ các điểm nghẽn, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế mở rộng đầu tư, sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng.
Vai trò này được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 27/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, với tổng mức vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước 8,22 triệu tỷ đồng, gồm 3,8 triệu tỷ đồng ngân sách Trung ương và 4,42 triệu tỷ đồng ngân sách địa phương. Trên cơ sở đó, kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao là 1.022,6 nghìn tỷ đồng, gồm 372,4 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương và 650,2 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Cùng với 14,7 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách địa phương giao tăng thêm, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 đạt khoảng 1.037,3 nghìn tỷ đồng.
Định hướng về đầu tư công cũng yêu cầu phải khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, tập trung vốn cho các công trình, dự án chiến lược, có tính liên vùng, liên ngành và sức lan tỏa lớn, nhất là giao thông, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, giáo dục và y tế. Theo đó, hiệu quả triển khai đầu tư công trở thành một trong những yếu tố quan trọng đối với khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và tạo nền tảng phát triển cho giai đoạn 2026 - 2030.
2. Thực trạng đầu tư công trong năm 2026
2.1. Khái quát tình hình
Tính đến ngày 03/9/2026, vốn đầu tư công đã giải ngân đạt 513,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Mặc dù chưa kết thúc 9 tháng của năm 2026, nhưng giá trị giải ngân đã cao hơn 73,3 nghìn tỷ đồng so với cả 9 tháng đầu năm 2025 và khoảng 192,7 nghìn tỷ đồng so với 9 tháng đầu năm 2024; tỷ lệ giải ngân cũng cao hơn mức tương ứng của hai năm trước. Kết quả này cho thấy tiến độ giải ngân năm 2026 có sự cải thiện khá rõ về khối lượng thực hiện, là tín hiệu tích cực về khả năng hấp thụ vốn đầu tư công trong năm đầu kỳ kế hoạch 2026 - 2030.

Tuy nhiên, mức giải ngân 50,2% đồng nghĩa với gần một nửa kế hoạch vốn vẫn phải được thực hiện trong thời gian còn lại của năm. Vì vậy, thách thức của những tháng cuối năm không chỉ nằm ở việc duy trì và đẩy nhanh nhịp độ giải ngân, mà còn ở khả năng chuyển khối lượng vốn còn lại thành kết quả đầu tư thực chất, bảo đảm tiến độ các dự án gắn với chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn. Đây là điều kiện quan trọng để đầu tư công phát huy đầy đủ tác động đối với tăng trưởng năm 2026, thay vì chỉ đạt mục tiêu về tỷ lệ giải ngân.
Một điểm mới trong điều hành đầu tư công năm 2026 là triển khai chấm điểm kết quả giải ngân đối với từng bộ, cơ quan Trung ương và địa phương. Kết quả chấm thử tháng 7-8/2026 cho thấy giải ngân kế hoạch vốn năm có chuyển biến tích cực: số bộ, cơ quan Trung ương được xếp loại “chưa tốt” giảm từ 11 xuống 7, số địa phương giảm từ 4 xuống 3; đồng thời, số địa phương đạt mức “rất tốt” tăng từ 15 lên 17. Ngược lại, đối với vốn kéo dài, kết quả chưa cải thiện rõ nét khi số bộ, cơ quan Trung ương xếp loại “chưa tốt” tăng từ 8 lên 11 và số địa phương tăng từ 6 lên 7. Điều này cho thấy dù tiến độ thực hiện vốn năm 2026 đang được cải thiện, nhưng xử lý và giải ngân phần vốn kéo dài vẫn là một điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ.
2.2. Đầu tư công theo các bộ ngành và một số lĩnh vực chủ yếu
Xét theo cơ quan thực hiện, tiến độ giải ngân giữa các bộ, cơ quan Trung ương còn có sự phân hóa khá lớn. Đến ngày 03/9/2026, khối các bộ, cơ quan Trung ương giải ngân khoảng 95,1 nghìn tỷ đồng, đạt 37,8% kế hoạch, thấp hơn 12,4 điểm phần trăm so với mức bình quân chung cả nước. Đáng chú ý, kết quả giải ngân tập trung khá lớn ở một số đơn vị; riêng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Xây dựng đạt khoảng 77 nghìn tỷ đồng, chiếm trên 80% tổng giá trị giải ngân của khối. Trong khi đó, 24/33 bộ, cơ quan Trung ương có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung, trong đó 7 đơn vị dưới 10% và 2 đơn vị chưa phát sinh giải ngân. Kết quả này cho thấy tiến độ thực hiện kế hoạch vốn trong khối Trung ương chưa đồng đều, khả năng chuyển vốn được giao thành khối lượng thực hiện còn chênh lệch đáng kể giữa các cơ quan. Cụ thể như sau:
- Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tiến độ giải ngân tương đối tích cực. Đến ngày 03/9/2026, Bộ Quốc phòng giải ngân khoảng 31,8 nghìn tỷ đồng, đạt 63,8% kế hoạch; Bộ Công an đạt khoảng 29,8 nghìn tỷ đồng, tương ứng 69% kế hoạch. Hai cơ quan chiếm gần hai phần ba tổng giá trị giải ngân của khối bộ, cơ quan Trung ương, đồng thời đều có tỷ lệ thực hiện cao hơn đáng kể mức bình quân (37,8% của các bộ ngành Trung ương), cho thấy khả năng hấp thụ vốn của lĩnh vực này tương đối tốt.
- Đối với kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, tiến độ thực hiện vốn đạt kết quả tương đối tích cực. Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam đạt tỷ lệ giải ngân 94,6%, trong khi Bộ Xây dựng đã giải ngân khoảng 15,4 nghìn tỷ đồng, thuộc nhóm có giá trị giải ngân lớn trong khối bộ, cơ quan Trung ương. Kết quả giải ngân gắn với việc hoàn thành, đưa vào khai thác một số công trình giao thông quan trọng trong năm 2026, trong đó có các đoạn còn lại của cao tốc Quy Nhơn - Chí Thạnh, cao tốc Chí Thạnh - Vân Phong (thuộc tuyến cao tốc Bắc - Nam); các dự án thành phần cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu và tuyến nối cao tốc Nội Bài - Lào Cai với cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án kết nối giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc... Qua đó, nguồn vốn đầu tư công được chuyển hóa thành năng lực kết cấu hạ tầng mới, góp phần nâng cao khả năng kết nối, giảm chi phí vận tải và mở rộng không gian phát triển kinh tế trên cả nước. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân của các dự án giao thông trọng điểm còn chậm; đến hết tháng 7/2026, các dự án này giải ngân khoảng 77,1 nghìn tỷ đồng, đạt 31,5% kế hoạch; trong đó, hai dự án đường sắt lớn là đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng mới đạt tương ứng 2,3% và 3,8% kế hoạch.
- Đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khả năng đưa nguồn vốn đầu tư công vào thực hiện còn hạn chế. Đến ngày 03/9/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ mới giải ngân 5,7% kế hoạch. Đồng thời, khoảng 9,9 nghìn tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn chưa được phân bổ. Tiến độ chậm liên quan một phần đến tính chất đặc thù và yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao của các dự án. Điển hình, Dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Công nghệ hạt nhân sử dụng công nghệ tiên tiến mà trong nước chưa làm chủ, nên quá trình lựa chọn giải pháp công nghệ, đồng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn và hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi cần nhiều thời gian.
Những vướng mắc ở cả khâu chuẩn bị, phân bổ và tổ chức thực hiện làm chậm quá trình chuyển nguồn lực đầu tư thành các công trình, hạ tầng và năng lực khoa học, công nghệ mới, qua đó ảnh hưởng đến khả năng phát huy hiệu quả nguồn vốn.
2.3. Đầu tư công theo các vùng và địa phương
Xét theo địa phương và vùng kinh tế, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công có sự phân hóa tương đối rõ cả về quy mô vốn và tỷ lệ thực hiện. Trong 6 vùng, Đồng bằng sông Hồng có quy mô kế hoạch vốn lớn nhất, đồng thời đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất, khoảng 60%. Đông Nam Bộ đứng thứ hai về quy mô kế hoạch và đã giải ngân khoảng 55%. Như vậy, riêng hai vùng kinh tế trọng điểm này đã giải ngân khoảng 282,1 nghìn tỷ đồng, chiếm phần lớn giá trị giải ngân của khối địa phương. Việc dòng vốn đầu tư công được đẩy nhanh tại các khu vực tập trung các trung tâm kinh tế, đô thị, công nghiệp và hệ thống kết cấu hạ tầng lớn có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tạo thêm động lực tăng trưởng trong năm 2026.
.png)
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Công văn số 14071/BTC-PTHT ngày 08/9/2026 của Bộ Tài chính.
Tiến độ tương đối tích cực cũng được ghi nhận tại Bắc Trung Bộ, với tỷ lệ giải ngân khoảng 55%, trong khi Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đạt khoảng 50%. Ngược lại, Trung du và miền núi phía Bắc mới đạt khoảng 47% và Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 41%, thấp nhất trong 6 vùng. Khoảng cách gần 20 điểm phần trăm giữa vùng có tỷ lệ giải ngân cao nhất và thấp nhất cho thấy khả năng hấp thụ vốn đầu tư công còn khá khác biệt giữa các vùng. Đáng chú ý, Đồng bằng sông Cửu Long được giao khoảng 81,8 nghìn tỷ đồng nhưng mới giải ngân 33,9 nghìn tỷ đồng; Trung du và miền núi phía Bắc được giao gần 69,9 nghìn tỷ đồng nhưng mới giải ngân 32,8 nghìn tỷ đồng. Đây là lượng vốn còn tương đối lớn cần được đẩy nhanh thực hiện trong những tháng cuối năm.
Sự phân hóa không chỉ diễn ra giữa các vùng mà còn khá rõ ngay trong từng vùng. Một số địa phương đạt tiến độ cao như Bắc Ninh (75%), Hà Nội (73,7%), Hà Tĩnh (68,1%), Nghệ An (65,7%), Đà Nẵng (65,3%) và Đồng Nai (61,6%), trong khi một số địa phương có tỷ lệ thấp như Cao Bằng (19%), Cần Thơ (29,3%), Ninh Bình (33,4%), Quảng Ngãi (38,3%) và Đắk Lắk (39,2%). Đặc biệt, một số địa phương có quy mô kế hoạch vốn lớn nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp tạo ra lượng vốn chưa giải ngân đáng kể, như Hưng Yên, Ninh Bình, An Giang và Cần Thơ. Điều này cho thấy dư địa thúc đẩy giải ngân trong phần còn lại của năm vẫn còn lớn, nhưng tập trung không đồng đều giữa các địa bàn.
2.4. Đánh giá chung
a. Kết quả đạt được
Thứ nhất, đầu tư công tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, với tiến độ thực hiện và giải ngân có chuyển biến tích cực. Quy mô vốn đưa vào nền kinh tế tăng khá so với cùng kỳ, tạo thêm nguồn lực cho tổng cầu và hoạt động đầu tư, đồng thời thúc đẩy các ngành sản xuất, xây dựng và dịch vụ có liên quan. Kết quả này gắn với công tác chỉ đạo, điều hành quyết liệt hơn, trong đó giải ngân đầu tư công tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm; tiến độ thực hiện được theo dõi thường xuyên, trách nhiệm của cơ quan chủ trì và người đứng đầu được xác định cụ thể hơn. Bộ Tài chính cũng triển khai chấm điểm, công khai kết quả giải ngân nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm thực hiện.
Thứ hai, chất lượng phân bổ nguồn lực có chuyển biến theo hướng tập trung hơn cho các động lực tăng trưởng và các dự án có sức lan tỏa. Nguồn vốn ưu tiên cho hạ tầng chiến lược, dự án liên vùng, dự án có khả năng giải ngân lớn; đồng thời rà soát, điều chỉnh vốn từ các dự án không còn nhu cầu hoặc chưa đủ điều kiện thực hiện sang các dự án có khả năng hấp thụ vốn. Ở cấp địa phương, nguồn lực tập trung tương đối lớn tại Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, nơi tập trung các cực tăng trưởng, trung tâm công nghiệp, đô thị và dịch vụ lớn. Xu hướng này phù hợp với yêu cầu hạn chế phân tán nguồn lực, tăng tính tập trung và nâng cao tác động lan tỏa của đầu tư công.
Thứ ba, tác động của đầu tư công từng bước chuyển từ hỗ trợ tổng cầu sang đồng thời củng cố năng lực cung của nền kinh tế. Một số công trình hạ tầng quan trọng hoàn thành và đưa vào khai thác đã bổ sung năng lực kết cấu hạ tầng, tăng cường kết nối và mở rộng không gian phát triển. Đây là cơ sở quan trọng để đầu tư công hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ thông qua gia tăng vốn đầu tư trong ngắn hạn mà còn thông qua giảm chi phí, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo điều kiện huy động đầu tư của khu vực tư nhân trong trung và dài hạn.
b. Hạn chế tồn tại
Thứ nhất, khả năng hấp thụ vốn đầu tư công chưa tương xứng với quy mô nguồn lực được bố trí. Tiến độ thực hiện còn phân hóa đáng kể giữa các bộ, ngành, địa phương và vùng kinh tế; một bộ phận nguồn vốn chưa được đưa kịp thời vào thực hiện. Hạn chế xuất hiện ngay từ khâu phân bổ và chuẩn bị đầu tư, không chỉ ở khâu giải ngân. Đến hết tháng 8/2026 vẫn còn khoảng 27 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương chưa được phân bổ chi tiết; một số cơ quan, địa phương tiếp tục đề xuất điều chỉnh giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu. Tình trạng vốn đã được bố trí nhưng chưa sẵn sàng đưa vào thực hiện làm giảm khả năng chuyển nguồn lực đầu tư công thành kết quả đầu tư trong năm, qua đó hạn chế tác động hỗ trợ tăng trưởng.
Thứ hai, cơ cấu thực hiện đầu tư công chưa theo kịp yêu cầu hình thành các động lực tăng trưởng mới. Tiến độ tại một số dự án hạ tầng chiến lược còn chậm; các dự án giao thông trọng điểm có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung, trong đó hai dự án đường sắt lớn đạt tỷ lệ rất thấp. Phân bổ và thực hiện vốn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng chưa đạt yêu cầu. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số, tiến độ chậm tại các lĩnh vực có khả năng tạo năng lực sản xuất mới, nâng cao năng suất và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng làm hạn chế tác động của đầu tư công đối với cả tăng trưởng trước mắt và năng lực tăng trưởng dài hạn.
Thứ ba, chất lượng thực hiện tại một số dự án còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Tình trạng điều chỉnh dự án trong quá trình triển khai, kéo dài thời gian thực hiện, phát sinh chi phí và chậm đưa công trình vào khai thác vẫn còn xảy ra. Thời gian thực hiện kéo dài không chỉ làm tăng chi phí đầu tư mà còn làm chậm thời điểm phát huy công năng và lợi ích kinh tế - xã hội của công trình, qua đó ảnh hưởng đến mức độ đóng góp của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế.
c. Nguyên nhân
Thứ nhất, chất lượng chuẩn bị đầu tư và lập kế hoạch vốn tại một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Tiến độ hoàn thiện thủ tục đầu tư và các điều kiện triển khai của một số dự án chưa đáp ứng yêu cầu; kế hoạch vốn tại một số trường hợp chưa sát với tiến độ và khả năng thực hiện. Công tác xác định nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn chưa chính xác, dẫn đến chậm phân bổ chi tiết, phải điều chỉnh kế hoạch hoặc đề xuất giảm vốn trong quá trình thực hiện.
Thứ hai, một số điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện dự án chưa được xử lý dứt điểm. Công tác giải phóng mặt bằng còn vướng mắc về nguồn gốc đất, bồi thường, tái định cư, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và di dời hạ tầng kỹ thuật. Nguồn cung một số loại vật liệu xây dựng chưa đáp ứng kịp nhu cầu triển khai đồng thời nhiều dự án; biến động giá vật liệu và chi phí vận chuyển làm tăng chi phí thực hiện và gây áp lực lên năng lực tài chính của nhà thầu. Năng lực của một số chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu còn hạn chế; phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ. Các yếu tố này trực tiếp làm kéo dài thời gian thi công, phát sinh chi phí và chậm đưa công trình vào khai thác.
Thứ ba, cơ chế và quy trình quản lý đầu tư chưa theo kịp yêu cầu của một số lĩnh vực và dự án mới, có tính chất phức tạp. Các dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn gặp khó khăn trong xác định tổng mức đầu tư, lập dự toán, xác định giá, lựa chọn công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật; các dự án hạ tầng quy mô lớn phải thực hiện đồng thời nhiều thủ tục về đầu tư, xây dựng, đất đai và môi trường. Yêu cầu triển khai đồng thời nhiều dự án quy mô lớn trong thời gian ngắn tạo áp lực lên năng lực thẩm định, quản lý và tổ chức thực hiện.
3. Kiến nghị giải pháp
Từ kết quả thực hiện đầu tư công vừa qua trong năm 2026, yêu cầu trong những tháng cuối năm không chỉ là tiếp tục cải thiện tiến độ giải ngân mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng chuyển nguồn vốn đầu tư công thành khối lượng thực hiện, công trình hoàn thành và năng lực sản xuất mới. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng của giai đoạn 2026-2030. Theo đó, một số giải pháp cần được chú trọng như sau:
Thứ nhất, tiếp tục rà soát, điều chỉnh vốn từ các dự án chậm triển khai, không còn nhu cầu hoặc khả năng giải ngân thấp sang các dự án có khối lượng thực hiện và khả năng giải ngân tốt, bảo đảm nguồn vốn được đưa vào nền kinh tế kịp thời và phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng.
Thứ hai, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình triển khai dự án. Trọng tâm là các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, đất đai, nguồn cung và giá vật liệu xây dựng, thủ tục đầu tư, cũng như những hạn chế về năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu; qua đó rút ngắn thời gian thực hiện và sớm đưa công trình vào khai thác.
Thứ ba, tập trung nguồn lực cho các dự án có khả năng tạo động lực và sức lan tỏa đối với tăng trưởng. Ưu tiên hạ tầng chiến lược, kết nối liên vùng, năng lượng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhất là các dự án có khả năng hình thành năng lực sản xuất mới, giảm chi phí của nền kinh tế và dẫn dắt, huy động đầu tư tư nhân.
Thứ tư, tăng cường trách nhiệm trong thực hiện đầu tư công. Kết quả thực hiện cần gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, cơ chế khen thưởng đối với các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt và xác định trách nhiệm đối với trường hợp chậm tiến độ do nguyên nhân chủ quan. Đánh giá cần dựa trên tiến độ giải ngân, khối lượng hoàn thành, thời gian đưa công trình vào khai thác và hiệu quả kinh tế - xã hội, qua đó phản ánh đầy đủ hơn chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.
Thứ năm, nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư và lập kế hoạch vốn cho các năm còn lại của giai đoạn 2026 - 2030. Bố trí vốn cần bám sát mức độ sẵn sàng và tiến độ dự kiến của dự án, đồng thời hoàn thiện cơ chế đầu tư đối với các lĩnh vực mới, có tính chất đặc thù. Qua đó, nâng cao tính chủ động trong triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn.
Ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế - tài chính và thống kê
Ngày 9/10/2026, tại trụ sở Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, thừa ủy quyền của Lãnh đạo Viện, đồng chí Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên ...
Ngày 06/10/2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng làm ...
Ngày 8/10/2026, tại trụ sở Bộ Công An, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách chiến ...
Ngày 06/10/2026, tại Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (Hà Nội), Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược tổ chức Hội thảo “Tăng ...
Sáng ngày 23/9/2026, tại trụ sở Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, đồng chí Đặng Đức Anh, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách ...
Ngày 25/9/2026, tại trụ sở Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, thừa ủy quyền của Lãnh đạo Viện, đồng chí Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng ...
Với mong muốn mang đến cho các em nhỏ một mùa Trung thu trọn vẹn yêu thương, ngập tràn niềm vui và tiếng cười, tối ngày 25/9/2026, Viện Nghiên cứu ...
Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng làm Trưởng đoàn đã làm việc với các cơ quan, ...
Thực hiện kế hoạch công tác năm 2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, ...
Trong hai ngày 22 và 23/9/2026, Đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược do đồng chí Nguyễn Hoa Cương, Phó ...